Lễ hội đả ngư hay tục đánh cá thờ .


Đức Thánh Tản (thần núi Tản Viên) là một trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng tối cổ người Việt. Sau khi lấy được Ngọc Hoa – công chúa con gái Vua Hùng. Thánh Tản đưa vợ về núi Tản và bắt đầu quá trình khai mở đồng bằng bằng bắc bộ. Quá trình khó khăn gian khổ ấy được minh họa sinh động trong ký ức dân tộc qua truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh.

Kinh tế trồng trọt, chăn thả gia súc đã khẳng định tính ưu việt (hơn hình thức sinh hoạt bộ lạc thời Vua Hùng) đã hình thành nên những làng quê (cộng đồng cư dân nông nghiệp lúa nước) mà sự khởi đầu là những làng làm ruộng tả, hữu ngạn sông Hồng – nơi khởi đầu cho việc hình thành tam giác châu thổ đồng bằng Bắc Bộ…

Theo thời gian, khi nền văn hóa phương Bắc đi kèm với các cuộc xâm lược tràn xuống phương nam thì sông Hồng vô tình làm nên một “cái trục” phận định ranh giới một cách rất tự nhiên. Nếu như tả ngạn sông Hồng với những làng quê có những nghề mang tính Đông Bắc Á – làm giấy, làm vàng mã, làm pháo…, thì hữu ngạn sông Hồng với những làng mang nặng tính Đông Nam Á – Lúa nước! Những làng quê Việt này ngày càng đóng kín để “tự cường dân tộc” và vô tình tính “đóng kín” này bảo lưu văn hóa rất tốt theo thời gian!

Cho đến tận ngày nay những làng quê của Xứ Đoài vẫn còn gìn giữ được nhiều nét văn hóa lúa nước và tục thờ Đức Thánh Tản trong những làng quê này, cụ thể là làng Việt cổ Đường Lâm với lễ hội “đả ngư” một tục thờ Đức Thánh Tản.

Việc hình thành nên “tứ Xứ, tứ Trấn” xung quanh kinh thành Thăng Long chỉ có tính ước lệ… Chưa có một văn bản nào vạch rõ địa giới mang tính “hành chính” cho “tứ Xứ và tứ Trấn”! Riêng với Xứ Đoài có thể lấy câu thơ của “Cụ Trạng Canh Nông – Phùng Kắc Khoan” làm ranh giới của Xứ Đoài:

Mặc dù đánh bắc dẹp đông
Ba phủ bốn huyện của ông thì chừa.

(Ba phủ ở đây là: Phủ Bạt (Bất Bạt), Phủ Quảng (Quảng Oai), Phủ Quốc (Quốc Oai). Bốn huyện ở đây là: Huyện Tùng Thiện, huyện Phúc Thọ, huyện Thạch Thất, huyện Chương Mỹ.
*
Sông Tích khởi nguyên là những dòng suối nhỏ triền bên này của núi Tản Viên (bên kia thuộc địa phận tỉnh Hòa Bình), bắt đầu là suối Hai thuộc địa phận huyện Ba Vì. Sông Tích chảy xuôi xuống, cùng với suối Măng và suối Rô (địa phận xã Sơn Đông, Cổ Đông, thị xã Sơn Tây) rồi chảy về Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ. Đến ngã ba cầu Tân Trượng trên quốc lộ số 6 (Chương Mỹ), sông Tích đổ vào sông Bùi (hết sông Tích)… Đại lược, sông Tích chảy trên “ba phủ, bốn huyện”… Đây là dòng sông văn hóa làm nên hồn cốt của của Xứ Đoài với đậm đặc các truyền thuyết về Thánh Tản.

Khoảng những năm đầu của thế kỷ XXI, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam do giáo sư Tô Ngọc Thanh chủ trương, tỉnh Hà Tây do ông Giám đốc Sở VHTT Đặng Văn Tu lãnh đạo, rất nhiều nhà nghiên cứu dân gian và các cộng tác viên đi về các vùng quê chủ yếu là ghi chép, sưu tầm, phát hiện… để làm thống kê. Theo giáo sư Tô Ngọc Thanh: Nếu không nhanh chúng ta sẽ mất hết. Một trong những nguyên nhân chính là các nghệ nhân đã cao tuổi… Rất nhiều tư liệu quan trọng đã được tập hợp trong thời gian này.

Riêng nhóm đi Xứ Đoài với những sưu tầm tư liệu, tài liệu (văn bản, truyền miệng) về Đức Thánh Tản đồ sộ và phong phú đến không ngờ. Mỗi một làng quê Xứ Đoài, hầu như làng nào cũng có dấu chân của Đức Thánh đi qua! Theo thời gian rất nhiều thứ đã bị mai một hoặc biến dạng nhưng đó là công việc của các nhà nghiên cứu sau này biên tập, đính chính…
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin chép ra đây những giai thoại, truyền thuyết về Đức Thánh Tản ở làng tôi, vùng tôi trong một khía cạnh nhỏ: Lễ hội ĐẢ NGƯ hay TỤC ĐÁNH CÁ THỜ làng Mông Phụ, xã Đường Lâm và một số làng trong vùng. Khuôn khổ bài viết ở góc độ sưu tầm nên không tránh khỏi thiếu xót (công việc hiệu đính xin nhờ các nhà nghiên cứu). Việc vội vã và tùy tiện này cũng là để mang đến cho mọi người một thông tin, khả dĩ ai quan tâm sẽ bổ túc thêm nữa để tư liệu ngày một phong phú và chính xác!
*
Truyền thuyết về Đức Thánh Tản:
Một hôm, Đức Thánh Tản đi qua Đường Lâm, đến cầu Vang – Một cây cầu bắc qua sông Tích sang làng Phụ Khang bây giờ. Làng Phụ Khang được tách ra từ làng Mông Phụ trong thời vua Minh Mạng. Cây cầu này chủ yếu là để người Mông Phụ đi qua sông sang những cánh đồng của mình như Bến Cốc, Giộc Đụn, Đồng Dưa, Đồng Me, Đồng Gậy…- Thánh Tản xuôi xuống Gò Vực thì gặp một ông lão người làng Mông Phụ đang kéo cá, Thánh Tản hỏi: Cụ có kéo được con nào không? Ông lão trả lời: Lão ngồi từ sáng, nay đã gần trưa kéo mãi mà chẳng được gì! Thầy xuống mà kéo! Thánh Tản mượn vó, kéo thử…

Thánh đặt vó kéo một đỗ được đúng 100 (một trăm con) chỉ có bốn loại cá chính: Trắm, chép, trôi, mè. Cụ già vô cũng khâm phục. Thánh Tản bảo cụ về làng cho mượn dao thớt, quang gánh… Thế là Thánh mổ cá ngay trên Gò Vực. Mổ cá xong, Thánh Tản lấy rổ xuống múc nước sông Tích lên rửa cá. Cụ già làng Mông Phụ vô cũng kinh ngạc thấy Thánh Tản đựng nước trong một cái rổ xảo (rổ đan thưa nan nên mắt rổ to) mà nước không chảy đi… biết không phải là người thường, cụ già chỉ biết lặng im đứng nhìn!

Thánh Tản mổ xong cá, chặt bỏ đầu đuôi chỉ lấy khúc giữa. Làm đến con thứ một trăm (100) thì không phải là cá có vảy mà là một con cá trê. Thánh Tản thả con cá trê xuống sông Tích. Con cá thoát chết bơi ngược dòng sông đến Rạnh Chung, lên Giộc Vang, Giộc Nhũi… Cuối cũng cá gặp một vũng nước cạnh Đền Và (Đông cung của Đức Thánh Tản bây giờ) thì “hóa” thành một tảng đá đá đen (hình một con cá trê) chầu vào Đền Và. Vũng nước này quanh năm không bao giờ cạn và tồn tại đến ngày nay. Sau đó có người đến ở hình thành nên xóm, tục gọi là xóm Cá Trê (xóm Cá Trê nay có tên là Đồng Đổi, hiện thuộc xã Thanh Mỹ, thị xã Sơn Tây).

Thánh Tản gánh cá đi đến làng Vân Gia bây giờ xin muối để ướp cá. Không hiểu sao dân làng Vân Gia không cho. Thánh cười bảo làng này là làng…, Thánh đi tiếp qua Cầu Trì, rẽ vào một làng bên cạnh đường xin muối. Dân làng này chẳng những cho muối mà còn thịt gà làm cơm đãi Thánh. Cơm nước xong Thánh Tản đặt tên làng này là Nghĩa Phủ (Mai Trai, Nghĩa Phủ bây giờ).

Sau đó Thánh Tản gánh cá lên Đền Và làm lễ. Thánh tin cho các làng quanh vùng đến để tản lộc. Lúc bấy giờ mọi người mới biết Thánh “giả dân” vi hành. Hôm đó nhằm ngày 14 tháng 9 (âm lịch). Dân quanh vùng cũng từ ngày đó (14 tháng 9 âm lịch) thành lệ, ra sông Tích “đánh cá thờ Đền Và”, tục gọi là “Lễ hội đả ngư”.

Tục đánh cá này được quy định chặt chẽ: Trước ngày 14 tháng 9 âm lịch không ai được đánh cá ở khúc sông này, sau ngày ấy không bị cấm nữa. Cho đến tận bây giờ dân các làng quanh vùng còn nhớ câu: “Thượng mạn Cầu Vang, hạ mạn Mả Mang, Cầu Trì” (Trên đánh từ Cầu Vang, đánh xuôi xuống Mả Mang, Cầu Trì). Khúc sông này gắn liền với huyền thoại Thánh Tản đánh cá và đi xin muối để ướp cá. Địa bàn này hiện thuộc địa giới hành chính xã Đường Lâm và xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây.
Vào ngày 14 tháng 9 âm lịch dân quanh vùng kéo ra đây rất đông, nhưng người xuống đánh cá chỉ là người làng Mông Phụ và Phụ Khang. Còn lại hai làng Vân Gia và Nghĩa Phủ “buông phiếu” và đi thu cá thờ. Trước khi xuống sông Tích đánh cá. Dân các làng trên đến địa điểm Gò Vực (thuộc làng Mông Phụ nơi xưa kia Thánh Tản mượn vó kéo cá) thắp hương làm lễ.

Đoàn đánh cá xuống sông Tích, khởi điểm là cầu Vang (Mông Phụ, Đường Lâm) là bắt đầu lễ hội. Kết thúc là cầu Trì (xã Trung Hưng). Đến đây dân làng Vân Gia và Nghĩa Phủ làm “lễ tạ”, lễ hội kết thúc. Dân làng Vân Gia và Nghĩa Phủ đi trên bờ thu những con cá có vảy như: trắm, chép, trôi, mè… Cá không có vảy như cá trê, cá nheo, lươn chạch. Cá đen như cá quả, cá rô… không thu. Và, chỉ thu của những người đánh cá một lần khi được con đầu tiên đúng tiêu chuẩn. Thu rồi phát cho một cái phiếu (buông phiếu). Phiếu này là bằng mo cau hình chữ nhật nhỏ bằng ba đầu ngón tay, năm thì nhuộm vàng, năm thì nhuộm đỏ, xâu vào một cái lạt. Người đã nộp cá đeo “phiếu” vào người hoặc dụng cụ để báo cho người đi thu cá là mình đã hoàn thành nghĩa vụ… Người tham gia đánh cá có phiếu này trong tay thì số cá đánh được của mình hôm ấy là hợp lệ!

Số cá hai làng Vân Gia và Nghĩa phủ thu được ngày hôm đó mang cả về nhà ông “chủ cai” làm cỗ. Ngày 15 tháng 9 âm lịch cỗ làm xong, dân hai làng rước lên Đền Và làm lễ Thánh Tản rồi cũng với làng Mông Phụ, Phụ Khang tản lộc vui vẻ…

Sau năm 1954, chính quyền mới của Đảng Cộng sản được thành lập, bài trừ mê tín dị đoan. Từ năm 1955 Lễ hội đả ngư và tục đánh cá thờ ở vùng này không còn nữa!
*
Tuy “Lễ hội đã ngư và tục đánh cá thờ” không còn nữa nhưng việc đánh cá trên sông Tích của những làng ven sông vẫn được duy trì bởi với họ… Trước mặt làng có một dòng sông!
Thông lệ, cứ quảng Rằm tháng tám trở đi (có năm sớm, có năm muộn) khi trên bầu trời lồng lộng gọi gió may chạy “rong đồng” thì dòng sông Tích thu mình lại. Nước sông bắt đầu lắng trong, cá của dòng sông sau một mùa nước, con nào con nấy béo tròn thì cũng là lúc dân các làng bắt đầu đánh cá. Chẳng hiểu là do đam mê hay còn một duyên cớ gì không biết, nhưng dân đi đánh cá đông nhất vẫn là dân làng Mông Phụ, xã Đường Lâm.

Khoảng 12 giờ trưa, không ai bảo ai, chỉ có một tiếng hú cất lên thế là xóm nào xóm nấy, không phân biệt tuổi tác và chỉ duy nhất có đàn ông trong làng tham gia đánh cá. Tất cả mình trần, những người khỏe mạnh đánh “xiếc”, đánh “rập”. Người không thích lội chạy ven bờ sông kéo “vó”. Trẻ con đánh “nơm” đánh “quạng”… Hàng trăm con người hò reo náo loạn cả một khúc sông dài. Có năm mùa nước lớn cá nhiều. Có năm mùa nước nhỏ cá ít nhưng không bao giờ thiếu cá. Những người tham gia đánh cá không phải ai cũng đánh được cá. Có người được nhiều, có người được ít, Người được nhiều dân làng gọi là “sát cá”!

Cứ thế đoàn người đánh cá ào ạt xuôi dòng. Có năm đánh từ Thanh Lũng, Bình Lũng, Tiên phong (huyện Ba Vì) đánh về. Có năm đánh từ Cầu Cốc (xã Cam Thượng) đánh xuôi. Có năm lại đánh từ Cầu Vang (xã Đường Lâm) xuôi Cầu Trì (xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây)…
Cứ thế… cho đến khi tắt mặt giời, gió may đem cái lạnh tê tái đến cũng là lúc kết thúc buổi đánh cá. Chạng vạng tối trong làng Mông Phụ vẫn thấy những người đàn bà đi gọi cửa từng nhà mời mua cá. Nhưng con cá mới đánh được từ hồi chiều, bày trên nhưng cái rổ xảo lấp lánh vảy bạc. Có những con cá chép to như tàu lá giong, để trong xảo vẫn thò đầu thò đuôi ra ngoài. Tôi cứ nhìn mãi, những con cá này. Vây đuôi đỏ au như lụa điều phơi dưới nắng, những cái râu mép vàng như nghệ. Nhìn chúng là cứ ngỡ chúng sắp biến thành rồng bay lên giời nơi có những đám mây ngũ sắc lúc hoàng hôn!

Bóng tối bao phủ, tôi đi trong cái bình yên của một làng quê… tiếng trẻ nhà ai râm ran bên bếp lủa hồng. Những ngày như thế mùi cá kho tương, cá nướng, cá om riềng mẻ… thơm nồng cả xóm! Chẳng hiểu sao lòng tôi ngân nga:

Ơn trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy bát cơm đầy
Lấy khúc cá to…

Câu hát ấy chẳng đã là khát vọng ngàn đời nay của mỗi làng quê trên đất nước này. Thanh thản, bình dị mà bao đỗi nhớ thương…
*
Vậy mà chỉ hơn chục năm trở lại đây, việc đánh cá thường niên trên sông Tích của làng Mông Phụ và các làng ven con sông này chấm dứt. Đơn giản chỉ vì dòng sông ô nhiễm. Sông Tích đã chết như bao con sông trên đất nước này như một tất yếu. Chúng ta đã bức tử dòng sông khi không có một định hướng để bảo vệ mội trường.

Không ngăn được mình!
Mỗi lần về quê tôi lại ra sông Tích. Lúc thì đoạn này, khi đoạn khác. Đoạn sông nào cũng trĩu nặng kỷ niệm. Và, có lẽ không phải của riêng tôi. Kỷ niệm của rất nhiều thế hệ dân làng đã gắn bó với dòng sông này. Để rồi xa quê, xa xứ… Đêm đêm trăn trọc trong tấm chăn đơn bởi không sao quên được nhưng giấc mơ về dòng sông. Cũng đúng thôi, sông Tích, dòng sông của tuổi thơ tôi và bao thế hệ dân trong làng, trong vùng… Dòng sông đã chảy vào huyết quản của những người dân vùng đất cổ – Dưới một góc độ nào đó, sông Tích là dòng sông văn hóa làm nên hồn cốt Xứ Đoài!

Từ trong sâu thẳm lòng mình, những câu thơ của nhà thơ Thế Mạc (ông quê ở xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất) cứ vang lên:

Ta về thôi, làng ơi!
Đầm giộc xin xít cá đuôi cờ
Đầu gối tay nghe tim mình nhịp gõ
Mà không sao gỡ nổi giấc mơ làng…

Nguồn: Hà Nguyên Huyến.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *