Phó Bảng Kiều Oánh Mậu

Ông sinh ra ở làng Đông Sàng, xã Đường Lâm, Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội ngày nay ( ngày xưa làng Đông Sàng thuộc Tổng Cam Giá Thịnh, huyện Phúc Thọ, Tỉnh Sơn Tây). Lúc nhỏ ông có tên là Kiều Hữu Dực hay Kiều Dực sau đổi là Kiều Cung tự Tử Yên, hiệu Giá Sơn, ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, Cụ tổ là Kiều Phúc đỗ tước hiệu Hoàng Giáp, khoa thi Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1423) các thế hệ tiếp theo cũng có nhiều vị đỗ đạt cao như Kiều Văn Bá đỗ Tiến Sỹ khoa Kỷ tỵ , niên hiệu Hồng Thuận thứ nhất (1509), Kiều Bá Nghiễn và Kiều Trọng Đương cùng đỗ Hương Cống năm Ất Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35 (1775), cha Kiều Oánh Mậu là Kiều Huy Tung (1834 – 1917)  đỗ Tú Tài khoa Đinh Mão (1867), cử nhân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1868). Khoa thi năm ấy là khoa thi đặc biệt trong lịch sử thời phong kiến vì không theo thông lệ thị cử nên được gọi là ân khoa nhằm tuyển chọn bổ sung quan lại vào bộ máy nhà nước lúc bấy giờ, sau khi đỗ Ông Huy Tùng đã được thăng làm Tri huyện Chân Định (Quỳ Côi – Quỳnh Phụ – Thái Bình) đến 1890 thì về Sơn Tây dạy học. Ông là người có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng người con trai.

Năm Kỷ Mão 1879 Kiều Hữu Dục thi Hội, đỗ Cử nhân. Đến năm Canh Thìn 1880 ông dự thi Đình và đỗ Phó Bảng (cả khoa thi năm ấy chỉ có 5 người đỗ Phó Bảng) ông được điều vào làm tập sự ở bộ Công trong Triều Đình Huế; 1882 ông được Triều Đình điều vào làm Tri  phủ Xuân Trường (Nam Định) vào năm 1883 khi vua Tự Đức qua đời đặt miếu hiệu là Dực Tông thì Kiều Hữu Dực phải đổi tên và từ đó ông mang tên Kiều Oánh Mậu. Con đường sự nghiệp của ông khá gập gềnh, chông gai. Vào năm 1883 khi thực dân Pháp đánh thành Sơn Tây ông viết tác phẩm “ Ai Sơn Thành” (cảm thương thành Sơn Tây) sau đó bị cách chức trở về quê sinh sống, đến năm 1886 ông lại được phục chức , bổ nhiệm làm Tri Phủ Lý Nhân (Hà Nam), đến năm 1891 bị giáng xuống làm Tri huyện Vũ Giang (Bắc Giang). Năm 1895 làm Đốc biện (quản biện sự vụ) tờ “Đại Nam đồng văn Nhật Báo’ (là tờ báo đầu tiên ở Hà nội in bằng chữ Hán, do tòa thông số Pháp tổ chức kiểm duyệt). Thời gian làm ở Báo, ông chú ý đến mảng bình luận, tọa đàm nếu có vụ việc dúng sai có lợi cho người dân, cổ động cho phong trào Tân học và công cuộc chấn hưng kinh tế. Năm 1902 ông bị chuyển đi làm đốc học ở Vĩnh Yên. Chính ông là người đã hăng hái cổ động cho việc thành lập ra trường tư thục để thu hút thêm nhiều người đi học. Năm 1907 ông bị chuyển đi làm Đốc Học ở Bắc Giang và tại đó ông đã lập ra Ấp Sơn Kiều nổi tiếng ( với hàm ý nêu danh họ Kiều ở Sơn Tây) … Bắt đầu từ thời gian này, ông tham gia day học ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội) và nhiệt tình vận động cho phong trào yêu nước chống lại các chính sách và ách nô dịch bóc lột của thực dân Pháp. Ông đã đồng ý cho người con trai thứ 3 của mình là Kiều Thế Diễm tham gia phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo. Đến cuối năm 1908 khi các trường học của phòng trào Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng của các Văn Thân, Sĩ Phu tri thức yêu nước tham gia bị theo dõi, lùng sục kiểm soát gắt gao, Kiều Oánh Mậu cũng bị giáng chức trở về quê. Cuối năm 1910 dù được chính quyền mời quay trở lại nhưng do tư tưởng chán nản trong việc quan trường, Ông không xin phục chức mà thực hiện chuyến du ngoạn dài ngày, đi tham lại các bạn bè bằng hữu sĩ phu yêu nước có cùng chí hướng ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đây là thời gian sáng tác hiệu quả của Ông, với nội dung chủ đạo của các tác phẩm kêu gọi nhân dân một lòng đoàn kết  cứu nước. Ông mất vào ngày 26 tháng 8 niên hiệu Duy Tân thứ 5 (28/10/1911). Thành công trong lĩnh vực của Ông là văn bản học với nội dung về khảo cứu các văn bản mô tả, so sánh, chú giải … ngoài ra ông còn viết truyện, Kinh, biên soạn, đề tựa sách, tham gia duyệt đọc các tác phẩm thuộc nhiều bộ môn khoa học. Ông là tác giả của 3 cuốn truyện thơ nôm viết theo thể lục bát, tác phẩm nào cũng dài hàng nghìn câu và cũng là người viết cuốn sớ tự đề: “Bản Triều bạn nghịch liệt Truyện”. Công trình này đã được ghi chép tất cả các cuộc khởi nghĩa bạo loạn chống lại triều đình từ thời Gia Long đến thời Vua Hàm Nghi tức là gần chọn vẹn thời gian của thế kỷ XIX. Các cuộc khởi nghĩa phản ánh bức xúc trước sự xuống cấp của chế độ phong kiến hà khắc; những nỗi thống khổ của đại đa số người dân, muốn khát khao một cuộc sống tốt đẹp; thanh bình đoàn kết, bài trừ nạn tham nhũng, úc hiếp dân lành, sự hèn hạ bán nước của triều đình trong những năm 1890 – 1911. Kiều Oánh Mậu đã giành nhiều thời gian công sức để chuyên tâm vào việc khảo định, chú giải  và nhuận sắc cho Truyện Kiều của đại thi Hào: Tố Như – Nguyễn Du. Một tác phẩm đỉnh cao của văn học Việt Nam, bản in Truyện Kiều năm Nhâm Dần niên hiệu Thành Thái 14 (1912) được gọi là bản: Kiều Oánh Mậu – một công trình có uy tín cao trong giới học thuật đã được nhiềm thế hệ độc giả tìm đọc … Hy vọng trong thời gian tới nhất là dịp kỷ niệm 110 năm ngày mất của ông (1911 – 2021). Lãnh đạo chính quyền địa phương và đông đao gia tộc họ Kiều khắp nơi sẽ có các hoạt động tôn vinh thân thế sự nghiệp của ông như: Hội thảo khoa học về sự nghiệp, cuộc đời của Ông;  Sưu tầm các tài liệu hiện vật về ông và gia đình. nhằm làm rõ thêm những đóng góp của ông thuộc các lĩnh vực; qua đó góp phần giáo dục truyền thống tấm gương yêu nước của một tri thức tiêu biểu tại quê hương Đường Lâm nói riêng và thị xã Sơn Tây nói chung.

Nguyễn Trọng An

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *