NGƯỜI HOẠ SỸ TÀI BA CỦA VÙNG ĐẤT XỨ ĐOÀI

Ông sinh năm 1923 trong 1 gia đình quan lại, cha là Khâm sai đại thần Phan Kế Toại (sau này là Phó Thủ tướng – Bộ trưởng Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà). Mặc dù sinh ra trong 1 gia đình quyền quý nhưng từ thửa thiếu thời ông là người thích khám phá, tìm hiểu và rất hiếu học, có tố chất của một người thông minh, lanh lợi, tuổi học trò ông bộc lộ những năng khiếu tố chất của một người theo ngành Mỹ thuật hội hoạ nên được gia đình chuyên tâm định hướng, được đào tạo bài bản tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng với rất nhiều hoạ sỹ Việt Nam cùng thời. Sau khi ra trường và gắn bó sự nghiệp với cách mạng, với Đảng và dân tộc, ông đã để lại cho chúng ta một khối lượng tác phẩm văn hoá mỹ thuật không nhỏ, góp phần làm rạng danh cho lịch sử nền mỹ thuật nước nhà; một hoạ sỹ, một nhân cách lớn, cũng là một người con thân yêu luôn nhận được sự kính mến ngưỡng mộ của biết bao con người và vùng đất cổ Đường Lâm.

Thời Cách mạng tháng 8 – 1945, chàng trai trẻ Phan Kế An đã nhiều lần cùng anh em đột nhập vào trại lính Nhật ở Tông (Chùa Thông – Sơn Tây) lấy trộm súng đạn để chuyển ra ủng hộ Việt Minh. Những việc làm táo bạo ấy luôn nhận được sự ủng hộ của người cha kính yêu. Và tư dinh của gia đình thường xuyên trở thành nơi cất giấu vũ khí của Việt Minh. Sau khi đất nước giành chính quyền, Chính phủ non trẻ và dân tộc phải đối mặt với muôn vàn thử thách thù trong – giặc ngoài, ông đã cùng 1 nhóm sinh viên mỹ thuật bí mật tìm đến nhà cố nhà văn Nguyễn Đình Thi ở ấp Thái Hà để vẽ khắc những bức tranh cổ động đầu tiên cho cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp. Thời ở chiến khu Việt Bắc, ông là một trong số rất ít hoạ sỹ vinh dự được tổ chức cử đến ở và vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay tại nơi ở và làm việc của Bác từ những ngày đầu gặp muôn vàn khó khăn gian khổ của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Năm 1948, ông được điều động về công tác trong Hội văn hoá cứu quốc, rồi báo Sự thật (sau này là báo Nhân dân), ở gần đồng chí Trường Chinh. Trong suốt thời gian làm công tác lĩnh vực hội hoạ ông được cử giữ nhiều cương vị trong cơ quan Hội Mỹ thuật Việt nam. Nói về sự nghiệp của ông, người ta không quên nhắc đến những tác phẩm nổi tiếng như: chân dung những nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, bức “Gác chuông” vẽ về chùa Trăm Gian; bức “Gặt ở Tây Bắc”; “Những đồi cọ”; “Bác Hồ làm việc ở nán Nà Lưa”; “Hà Nội tháng 12/1972”, “Cánh đồng bản Giắc”. Rồi bức “Bụi nứa miền xuôi” và “Gác chuông” được đặt trang trọng trong Viện Bảo tàng Emitage và Bảo tàng Phương Đông của nước Nga. Riêng bức sơn mài “Nhớ một chiều Tây Bắc” được ra đời khi ông mới 30 tuổi, bức này được rất nhiều người hâm mộ bởi hình tượng hùng vị của núi rừng phong cảnh và những anh bộ đội Cụ Hồ. Từ cảm hứng chiêm ngưỡng bức tranh mà nhà thơ Đoàn Việt Bắc đã giàu cảm xúc cho ra đời bài thơ “Thả chiều vào tranh”, sau này bài thơ đã được cố nhạc sỹ quân đội Thuận Yến phổ nhạc thành bài hát giàu cảm xúc lãng mạn. Các tác phẩm của ông gồm đủ loại hình như:  sơn dầu, sơn mài, lụa, màu nước, tranh biếm hoạ, ký hoạ. Tranh của ông còn có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới và tên của ông được ghi danh trong từ điển Bách Khoa Mỹ thuật của Liên bang Nga và Đức. Ông 3 lần được nhận giải Nhất trong các triển lãm mỹ thuật toàn quốc vào các năm 1951, 1955, 1960.

Ngoài sáng tác hội hoạ ông còn có thú vui làm thơ, viết báo, chơi cây cảnh, chăm chút động vật gần gũi với người; thường xuyên về thăm quê hương Sơn Tây – Đường Lâm nhân dịp hội làng, Tết đến xuân về, hay tri ân tổ tiên, bạn bè và họ hàng; và luôn dành những tình cảm tốt đẹp cho mọi người; vận động con cháu luôn ủng hộ vật chất, tinh thần cho làng quê; dòng họ để góp phần xây dựng tôn tạo nhà thờ họ, các điểm du lịch tâm linh hay quỹ khuyến học – khuyến tài; khi nghỉ hưu ông còn được mời tham gia công tác tại một số tổ chức như UB TW MTTQ Việt Nam, thành viên Hội đồng biên tập Ban Mỹ thuật Từ điển Bách khoa Việt Nam; Trưởng Ban liên lạc Hội đồng hương Sơn Tây, Chủ nhiệm CLB Văn nghệ xứ Đoài. Những năm tháng trước khi ra đi dù tuổi cao, sức yếu nhưng niềm đam mê, tinh thần cống hiến cho hội hoạ của ông vẫn còn nguyên. Ông vẫn còn sáng tác ra nhiều tác phẩm ở xưởng vẽ của mình. Với những đóng góp cho cách mạng và nền hội hoạ nước nhà, ông đã vinh dự được Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Huân chương Độc lập hạng 3, giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001. Ông đã về cõi vĩnh hằng nhưng người dân quê hương và giới văn học nghệ thuật nước nhà luôn coi ông là tấm gương sáng về tinh thần lao động, cống hiến cho dân tộc cho nền hội hoạ nước nhà.

09:06:54 30/01/2018 - Lượt xem: 246
Tin liên quan