NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ VÙNG XỨ ĐOÀI – nơi hội tụ nét văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh cao quý

Cổng Tam Quan

Trong các loại hình di tích lịch sử văn hóa đang được nhân dân bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị thì những ngôi chùa cổ chiếm số lượng không nhỏ và có vị trí quan trọng. Các di tích này đã khẳng định bản sắc văn hóa đa dạng, phong phú, giàu sáng tạo của các nghệ nhân, nơi gửi gắm niềm tin và cũng là chỗ dựa tinh thần cho mỗi người, mỗi nhà. Trong đời sống tâm linh của mỗi người, khi đặt chân đến chùa đều có chung một ước mơ, khát vọng về một cuộc sống tươi đẹp, một xã hội thanh bình, tiến bộ. Đến thời điểm này cũng có một số nguồn tư liệu khẳng định mốc thời gian Phật giáo du nhập vào nước ta từ rất sớm và minh chứng rằng: suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Phật giáo luôn có chỗ đứng quan trọng trong đời sống tinh thần của đại đa số nhân dân, trong đó điển hình nhất là thời đại phong kiến (Lý – Trần từ năm 1009 – 1400).

Vùng xứ Đoài xưa là một trong Tứ trấn nằm ở phía Tây kinh thành Thăng Long, với nhiều loại hình di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đang được cộng đồng dân cư bảo tồn, quản lý và phát huy. Mỗi ngày nó càng có chỗ đứng, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần to lớn cho sự phát triển kinh tế của mỗi địa phương. Có thể kể đến tên các ngôi chùa cổ nổi tiếng trong vùng như: chùa Mía, chùa Trăm Gian, chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Tản Viên, chùa Nả. Hệ thống các ngôi chùa cổ đó có vị trí lớn trong kho tàng văn hóa lịch sử quý báu của vùng. Mỗi ngôi chùa được ví như một bảo tàng nhỏ – nơi gìn giữ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể quý, một không gian hội tụ, bảo tồn các loài cây, cỏ, hoa quý, điểm dừng chân, trú ngụ và nơi cung cấp thức ăn cho một số loài sinh vật, một không gian trong lành, tĩnh mịch, và rất linh thiêng.

* Chùa cổ – nơi bảo tồn gìn giữ các giá trị văn hóa quý

Đó là các hiện vật, bao gồm: các vị tượng phật, đồ thờ cúng, văn bia, hoành phi, đại tự, được bài trí kê đặt, tôn thờ, trang nghiêm cùng những bắc trạm trổ, kỹ thuật lắp ráp thể hiện tính tỉ mỉ, kỹ xảo chính xác, các hiện vật được thể hiện qua nhiều chất liệu quý khác nhau như gỗ, kim loại, đất nung, vôi… Ngoài sự sáng tạo để tôn vinh vai trò của mỗi vị tượng phật thì việc bài trí, cũng như không gian, nội thất của mỗi ngôi chùa cổ của vùng xứ Đoài cũng góp phần làm cho mỗi ngôi chùa thêm quý giá, linh thiêng. Đó là kiến trúc, bố cục của các chùa của vùng thường xây thấp, vật liệu chủ yếu bằng gỗ quý, tường thường bằng gạch chỉ nung hay đá ong, ánh sáng được lấy từ tự nhiên luôn được coi trọng, màu sắc tại các vị trí thường là tối màu, các cửa sổ hay cửa chính thường là nơi có gió mát, không khí trong lành. Mỗi vị Phật được bài trí ở từng nơi khác nhau đều có những nhiệm vụ, trọng trách cao cả, vinh quang như: Thập bát La Hán (18 vị La Hán – với dáng người, vẻ mặt, cử chỉ khác nhau. Tất cả đều có chung tinh thần nung nấu quyết tâm rèn luyện, phấn đấu học tập, tin tưởng vào ngày tu thành chính quả), Bát bộ Kim Cương (8 vị , mỗi vị cầm trên tay một thứ binh khí. Đây là những người lĩnh hội sứ mệnh bảo vệ Phật pháp), Thập điện Diêm Vương (10 vị được ví như các quan tòa xét xử, kết tội những kẻ gây ra tội ác nơi trần thế khi về với cõi âm, lúc sinh thời những ai mắc vào các tội như: nói dối, bất hiếu, sát sinh, trộm cắp…đều bị xét xử thích đáng); tượng Ngài Tuyết Sơn khổ hạnh, ngồi dưới gốc cây bồ đề, ngày ngày đọc kinh niệm phật trên núi tuyết lạnh giá. Ông chỉ ăn mỗi ngày một hạt vừng và uống một cốc nước trắng tinh khiết. Cơ thể của Người hao mòn đến nỗi chỉ còn nhìn thấy những rảnh xương sườn khô héo, nhưng tinh thần luôn minh mẫn để vượt qua mọi gian nan thử thách; tượng Đức Phật Di Lặc với nụ cười mãn nguyện, thân hình bệ vệ đầy đặn, thể hiện ước mong thiên hạ thái bình, xã hội phồn vinh, cuộc sống ấm no; tượng Ngài Đức Chúa Ông được trao quyền cai quản chùa.

* Chùa cổ cũng là nơi bảo tồn, nơi sinh trưởng, phát triển của các loài cây, hoa quý: với mục đích tạo ra môi trường trong lành, thoáng mát. Mặt cửa chính của chùa thường quay về hướng Nam hay hướng Đông Nam để đón ánh bình minh (mặt trời mọc) hay những luồng gió mát trong lành. Thế đất nơi chùa tọa lạc cũng thường là nơi thoáng đãng, thuận tiện đường đi lối lại. Những mái ngói phủ rêu phong trong chùa còn được bao bọc bởi những màu xanh bốn mùa của nhiều loại cây trái như: mít, xoài, nhãn, vải, khế, bưởi, na, chuối, cây sanh, si, đa, đề, các loài hoa tỏa hương thơm tinh khiết, khoe đa sắc màu như: hoa đại, hoa sen, hoa mộc, tường vi, hoa đào, mai, hay những loài cây tượng trưng cho tính thẳng thắn, cương trực, vững chãi, trường tồn như: vạn tuế, bách, tùng, trúc. Các loài cây lá đó luôn ẩn chứa những triết lý, ý nghĩa cao cả của giáo lý nhà Phật truyền thụ và dăn dạy mọi người chung tay góp phần xây dựng cuộc sống phồn thịnh, thanh bình, hướng tới cái đẹp cao cả: chân – thiện – mỹ. Chính vì thế, sau khi thắp hương vái Phật, các phật tử và khách du hành đều dành chút thời gian để hòa mình với không gian tĩnh mịch, an lành nơi đất Phật – cửa thiền.

* Kiến trúc chùa ở miền Trung – Nam: thường được thiết kế với không gian cao, sơn màu sáng, sử dụng nhiều đèn điện và trang trí chiếu rọi; cửa ra vào cũng rộng và cao. Còn chùa ở miền Bắc, chủ yếu là ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, thường sử dụng các vật liệu mang yếu tố cũ, cổ, sử dụng nhiều ánh sáng tự nhiên, không gian hơi tối màu, được kết hợp cả màu của tường, nền nhà, gỗ, ngói lợp, các vật dụng và các đồ thờ, kể cả các công trình phụ cận khác như: khu bếp, nhà ăn, kho, nhà vệ sinh. Ở vùng xứ Đoài, vật liệu để xây dựng tường chùa chủ yếu dùng gạch đá ong.

* Mùa xuân là khoảng thời gian thích hợp nhất được mọi người đi lễ chùa, là mùa mở đầu của một năm, cũng là mùa của nhiều lễ hội lớn nhỏ ở các di tích của mỗi miền quê, nơi cửa chùa – đất Phật luôn là điểm đến không thể thiếu trong mỗi chuyến vi hành của mỗi người, mỗi nhà. Trong làn khói hương thoang thoảng, nhẹ bay trước các vị phật oai linh, huyền bí, đức độ, tất cả các phật tử đều thành kính bày tỏ , gửi gắm những khát vọng, ước mơ hoài bão cho một năm mới thành công viên mãn, giãi bày những nỗi niềm trăn trở riêng tư, trút được bớt những lo toan, vất vả, gánh nặng, ảnh hưởng đến tinh thần, để đến khi trở về, trong lòng mỗi người như được tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để vững vàng vượt lên phía trước, chinh phục những thành công, kết quả cao hơn, có tinh thần tỉnh táo, bình tĩnh, khéo léo để dễ dàng vượt qua những thời khắc khó khăn có tính bước ngoặt, quyết định của cuộc đời, sự nghiệp.

* Chùa cũng là nhà trường, lớp học không tên để tiếp nhận và nuôi dạy những đứa trẻ bị bỏ rơi, lang thang, cơ nhỡ, không nơi nương tựa. Với lòng nhân ái và bao dung cao độ, hiện nay nhiều vị sư trụ trì đã mở rộng vòng tay nhân ái, kêu gọi sự ủng hộ, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân để đón các em về nuôi dạy, rèn rũa, trở thành người có ích cho xã hội, biết phát huy tài năng, chất xám của mình, các lớp học tình thương cũng được các nhà chùa mở ra để các học sinh nghèo hiếu học quanh vùng đến học bồi dưỡng để nâng cao kiến thức thông qua việc truyền thụ giảng dạy tự nguyện của các thầy cô ở địa phương và các vùng lân cận. Ngoài ra, tại chùa cũng là các bệnh viện đông y thu nhỏ – nơi chăm sóc, phát thuốc chữa bệnh cho mọi người thông qua việc trồng và thu hái các loại cây thuốc tại vườn của chùa. Các thầy, các vãi tự chế biến rồi phân phát cho các bệnh nhân. Các cây cỏ tuy mộc mạc nhưng bằng sự kiên trì, mài dũa, chế biến bằng các phương pháp khác nhau lại trở thành các vị thuốc quý, giúp không ít người vượt qua cơn hiểm nguy, chiến thắng bệnh nan y, hiểm nghèo. Cũng tại các chùa, dịp năm học của các em học sinh, sinh viên kết thúc, nhiều lớp, khóa tu luyện, truyền dạy kỹ năng sống được mở ra, thu hút các em tham gia . Qua đó, mỗi tâm hồn thanh thiếu niên được trang bị thêm những điều hay lẽ phải, kỹ năng sống, tiếp thêm động lực để cống hiến và phấn đấu hiều hơn nữa, làm nhiều việc tốt cho cộng đồng và xã hội.

* Ngày nay, ngoài là nơi bài trí thờ Phật thì các chùa cũng danh nhiều vị trí trạng trọng để thờ phụng các vị Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu, hay những người có công với làng, với nước, hay các loại hình tâm linh, tín ngưỡng khác. Vào các ngày lễ lớn trọng đại của dân tộc, địa điểm tại Chùa cũng được lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan hữu quan tổ chức các buổi lễ cầu siêu, cầu phước an lành cho những anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, hay những người mất vì tai nạn giao thông, hoặc những rủi ro khác.

Trong hai cuộc kháng chiến, giai đoạn từ 1945 – 1975, các công trình của chùa cũng trở thành điểm cất giữ hậu cần, vũ khí cho cách mạng, nuôi giấu, che chở cán bộ trước sự truy đuổi của kẻ thù. Trong lịch sử đã có rất nhiều tấm gương sang về các sư trụ trì sẵn sàng hy sinh, đóng góp nhiều tiền của, vật chất cho cách mạng hoặc là nơi sinh hoạt, làm việc tạm thời cho các cơ quan, tổ chức. Ngày nay, cùng với sự quan tâm, giúp đỡ đầu tư của Nhà nước, những nỗ lực, chủ động của Giáo hội Phật giáo từ trung ương đến cơ sở, các vị trụ trì trong chùa luôn được quan tâm đào tạo bài bản, có trình độ, chuyên môn kiến thức. Nhiều người đã học hành thành đạt, vươn tới các học hàm, học vị cao như thạc sỹ, tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư, trở thành các nhà sáng chế, các văn nghệ sỹ xuất sắc, hay một số cũng được mời tham gia ứng cử và trở thành đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, thành viên tổ chức Mặt trận và nhiều Hội bảo trợ nhân đạo khác, nêu ra nhiều ý kiến và sự đóng góp tại các diễn đàn thuộc nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngoài ra còn tham gia hội nhập hoạt động chung với phong trào Phật giáo quốc tế.

Trong thời kỳ đất nước đang hội nhập và phát triển mạnh mẽ cùng với nhiều di tích và danh thắng thì những ngôi chùa cổ luôn là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước góp phần không nhỏ cho ngành kinh tế du lịch phát triển, lượng khách đến tham quan các chùa cổ tăng dần cũng tạo điều kiện cho nhân dân xây dựng, bày bán các sản phẩm du lịch, dịch vụ nhằm nâng cao thu nhập , tạo công ăn việc làm ổn định.

Những năm gần đây, có nhiều ngôi chùa cổ đã nhận được sự đầu tư không nhỏ của Nhà nước nhằm tu bổ, tôn tạo lại các hạng mục đã xuống cấp; cải tạo khuôn viên, các công trình phụ trợ, cũng như các hệ thống khác. Ngoài nguồn vốn của Nhà nước thì các chùa cũng nhận được nguồn kinh phí công đức của các nhà hảo tâm xa gần và nhân dân. Tuy nhiên, để việc bảo tồn, quản lý, phát huy, khai thác một cách khoa học, bền vững, hiệu quả các giá trị của những ngôi chùa cổ thì cộng đồng nhân dân, và các vị trụ trì, tăng ni, Phật tử phải luôn phối hợp chặt chẽ với các cấp lãnh đạo chính quyền và các cơ quan quản lý chuyên môn thực hiện tốt theo các quy định của pháp luật hiện hành, có sự giám sát của cộng đồng dân cư từ những việc làm có sự phối hợp, nhất trí và đạt kết quả đó sẽ làm cho mỗi ngôi chùa cổ luôn được bảo vệ trường tồn các giá trị văn hóa lịch sử, môi trường sinh thái trong lành, ngày càng có ý nghĩa và vai trò to lớn trong đời sống tâm linh của dân tộc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *